Hiển thị các bài đăng có nhãn Tố tụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tố tụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC KHÁNG CÁO BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ

1. Người có quyền kháng cáo: (Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự)

- Đương sự, người đại diện hợp pháp của họ
- Cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.
- Đối với đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
- Thời hạn kháng cáo quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.
- Nếu đơn kháng cáo gửi qua đường bưu điện thì ngày kháng cáo được tính từ ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.
- Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu có lý do chính đáng
- Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
+Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
+ Tên, địa chỉ của người kháng cáo;
+ Kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
+ Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;
+ Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
- Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm.
- Nếu đơn kháng cáo gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết và gửi kèm hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.
- Kèm theo đơn kháng cáo là tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.
5. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 01:
(1) Ghi tên Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án. Nếu là Toà án nhân dân cấp huyện, thì cần ghi rõ Toà án nhân dân huyện gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh ĐN); nếu là Toà án nhân dân cấp tỉnh, thì cần ghi rõ Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) nào (ví dụ: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội). Cần ghi địa chỉ cụ thể của Toà án (nếu đơn kháng cáo được gửi qua bưu điện).
(2) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì ghi họ và tên của cá nhân đó; nếu người kháng cáo là cơ quan, tổ chức, thì ghi tên của cơ quan, tổ chức đó (ghi như đơn kháng cáo) và ghi họ và tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó (ví dụ: Người kháng cáo: Tổng công ty X do ông Nguyễn Văn A, Tổng giám đốc làm đại diện).
(3) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì ghi đầy đủ địa chỉ nơi cư trú (ví dụ: Địa chỉ: trú tại thôn B, xã C, huyện H, tỉnh T); nếu là cơ quan, tổ chức, thì ghi địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó (ví dụ: Địa chỉ: có trụ sở tại số 20 phố NP, quận Đ, thành phố H).
(4) Ghi tư cách pháp lý của người kháng cáo (ví dụ: là nguyên đơn (bị đơn) trong vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Trần Văn Nam trú tại nhà số 34 phố X, quận H, thành phố H theo uỷ quyền ngày…tháng…năm…; là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty XNK A do ông Nguyễn Văn Nam – Tổng Giám đốc đại diện theo giấy uỷ quyền ngày…tháng…năm…).
(5) Ghi cụ thể kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần nào của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đó (ví dụ: kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” ngày 15-01-2006 của Toà án nhân dân huyện A tỉnh H).
(6) Ghi lý do cụ thể của việc kháng cáo.
(7) Nêu cụ thể từng vấn đề mà người kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
(8) Trường hợp có các tài liệu, chứng cứ bổ sung thì phải ghi đầy đủ tên các tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo (ví dụ: các tài liệu kèm theo đơn gồm có: 1) bản sao Giấy xác nhận nợ; 2) bản sao Giấy đòi nợ…).
(9) Nếu người kháng cáo là cá nhân, thì phải ký tên hoặc điểm chỉ và ghi rõ họ và tên của người kháng cáo đó; nếu là cơ quan, tổ chức kháng cáo, thì người đại điện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức kháng cáo ký tên, ghi rõ họ và tên, chức vụ của mình và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.
Ví dụ:
Người kháng cáo
Tổng Công ty X
Tổng Giám đốc
(Ký tên, đóng dấu)

Nguyễn Mạnh T)

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Vì sao người lao động thường thua kiện?

Từ những vụ án tranh chấp lao động
  Thời gian gần đây,  một số vụ người lao động (NLĐ) khởi kiện doanh nghiệp  về việc không thực hiện đúng chế độ chính sách, không đảm bảo quyền lợi của NLĐ nhưng phần thua luôn thuộc về NLĐ.

     Năm 1979, ông Phạm Văn Lâm, nguyên kỹ sư cơ khí của Cty CP chế tạo điện cơ Hà Nội (tên viết tắt là HEM) được Bộ Cơ khí và luyện kim điều động đến làm việc tại Nhà máy Chế tạo điện cơ Hà Nội. Năm 2009, Cty TNHH Nhà nước MTV chế tạo điện cơ Hà Nội thực hiện CPH. Ngày 6/4/2009, ông Lâm nhận được thông báo về việc sắp xếp lại lao động, theo đó, ông thuộc diện lao động dôi dư, giải quyết theo Bộ luật Lao động khi CPH. Ngày 30/6/2009, Cty TNHH Nhà nước MTV Chế tạo điện cơ Hà Nội (Cty MTV CTĐC) có thông báo đề nghị ông Lâm đến nhận quyết định chấm dứt HĐLĐ. Ngày 24/5/2012, ông Lâm làm đơn khởi kiện đề nghị tòa án hủy quyết định chấm dứt HĐLĐ của Cty MTV CTĐC; buộc HEM trả lại tờ khai xin cấp sổ BHXH… Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm của TAND TP Hà Nội, tòa đã đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc hủy quyết định chấm dứt HĐLĐ của Cty với ông Lâm vì thời hiệu khởi kiện đã hết. Cty có nghĩa vụ tiến hành việc lập hồ sơ tham gia BHXH cho ông Lâm chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc cấp sổ BHXH. Tuy nhiên, tới thời điểm này, phía Cty vẫn không thực hiện đầy đủ trách nhiệm với NLĐ.



   Theo hồ sơ vụ án tranh chấp lao động giữa Tổng công ty CP Xây lắp dầu khí VN (PVC) và ông Đỗ Văn Hải: Trong thời gian làm việc tại PVC từ 14/11/2010 đến 24/5/2011, ông Hải đã gửi nhiều bài viết tố cáo một số cán bộ ngành dầu khí có hành vi tham nhũng tới nhiều địa chỉ email. Ông Hải đã bị cơ quan điều tra bắt tạm giam vì hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức. Ngày 20/12/2011 Viện KSND TC đã ra quyết định đình chỉ vụ án. Ngày 17/1/2012, ông Hải có đơn đề nghị quay trở lại làm việc tại PVC. Tuy nhiên, ngày 29/3/2012, PVC ra quyết định về việc thi hành kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải vì ông Hải đã gây thiệt hại đến hoạt động sản xuất kinh doanh của PVC. Ông Hải đã có đơn khởi kiện PVC. Ngày 14/8/2013, TAND huyện Từ Liêm có bản án dân sự sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Hải đồng thời chấp nhận lập luận của PVC: Ông Hải đã gây thiệt hại cho các cổ đông của Tổng công ty PVC hơn 2.500 tỷ đồng (?). Bản án dân sự phúc thẩm của TAND TP Hà Nội ngày 26/12/2013 nhận định: Ông Hải đã gây thiệt hại cho PVC số tiền là trên 7 tỷ đồng, PVC còn bị thiệt hại về uy tín, cơ hội kinh doanh…
     Theo luật sư Phạm Ngọc Minh, Đoàn luật sư TP Hà Nội, theo pháp luật không một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử. Thế nhưng trong một số vụ án lao động, mà NSDLĐ là doanh nghiệp lớn, có thương hiệu và ảnh hưởng nhất định trong nền kinh tế, dường như có sự can thiệp nào đó vào việc xét xử, vẫn có đâu đó hiện diện “lợi ích nhóm”…, nhiều tình tiết, chứng cứ có lợi cho người lao động không được xem xét khách quan, toàn diện. Thậm chí có những trường hợp HĐXX giải thích luật theo kiểu suy diễn, đưa ra nhận định trái với quy định pháp luật, từ đó đưa ra bản án không khách quan, thiếu cơ sở pháp lý. Hoặc như nguyên tắc giám đốc việc xét xử - tòa án cấp trên giám đốc việc xét xử của toà án cấp dưới để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất, nguyên tắc Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự…, đôi khi còn mang tính hình thức. “ Một trong những luận điểm khá phổ biến là lý giải cho vi phạm pháp luật lao động phổ biến, tranh chấp lao động gia tăng là do hiểu biết pháp luật của NLĐ hạn chế, hoặc ý thức chấp hành pháp luật của NSDLĐ chưa cao... Tuy nhiên, theo tôi, trách nhiệm trước hết phải thuộc về cơ quan công quyền”, luật sư Minh khẳng định.  
     Cũng theo LS Phạm Ngọc Minh, hiện nay Việt Nam đang nặng về kêu gọi ý thức trách nhiệm cán bộ, công chức thi hành công vụ. Trong khi họ nắm trong tay quyền lực lớn, nhưng nếu có sai sót và bị phát hiện thì chỉ bị xử lý nhẹ, bị kỷ luật cũng chỉ ở mức khiển trách, rút kinh nghiệm. Những người có ý thức, có trách nhiệm thì họ làm tốt nhưng ngược lại những cán bộ vô cảm sẽ ngày càng có xu hướng không làm tròn nhiệm vụ, trọng trách được giao. Nếu cứ tái diễn một tỉ lệ không nhỏ những bản án có vi phạm pháp luật, sẽ dẫn đến sự suy giảm niềm tin và hệ thống pháp luật, vào hoạt động của cơ quan công quyền.

Thu Trang

Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014

TẬP HUẤN HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG CHO CÔNG TÁC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

   Trong hai ngày 05-06/4/2014 Hội đồng phối hợp liên ngành về Trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng ở huyện Vĩnh Thạnh tổ chức tập huấn kiến thức và kỹ năng trong hoạt động tố tụng cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh. 

   Là địa phương thuộc huyện nghèo, nơi có nhiều đối tượng được trợ giúp pháp lý, nhất là đồng bào người dân tộc thiểu số, người thuộc diện hộ nghèo...về dự đợt tập huấn lần này có gần 30 cán bộ là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư cộng tác viên, Trợ giúp viên pháp lý.

     Tại đợt tập huấn, các Báo cáo viên pháp luật của tỉnh là các cán bộ Điều tra viên, Kiểm sát viên...công tác các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, Công an tỉnh...báo cáo nội dung các chuyên đề về triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội: Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên; triển khai Thông tư số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao: Hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; Văn bản hợp nhất số 3809/VBHN-BTP ngày 21/5/2013 của Bộ Tư pháp về Nghị định: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, tại đợt tập huấn lần này, các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn có thời gian trao đổi, bàn biện pháp để tăng cường hơn nữa việc thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý trong quá trình tham gia tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với cơ quan Trợ giúp pháp lý.

   
     Đây là một trong những hoạt động tích cực. Qua đó từng bước nâng cao hơn nữa các biện pháp phối hợp trong trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý khi liên quan đến hoạt động tố tụng.

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

Cái giá của kẻ tham lam

     Có thể nói gia đình của Nguyễn Thiên Kim ở cái vùng đất Tây Sơn chưa gọi là giàu. Nhưng đời sống vật chất và tinh thần không đến nỗi nào! Vợ và ba người con trai nay đã trưởng thành. Người con út nhỏ nhất cũng đã trên mười tám tuổi. Hàng ngày, khi mọi người tất bật công việc cho ngày mới, thì Thiên Kim “đã lấy” được tiền của họ. Không nhiều, nhưng mỗi ngày quán ăn sáng của vợ chồng Thiên Kim cũng cho thu nhập “ đủ xài”. Có lẽ, thu nhập theo kiểu cò con khó làm giàu hay sao ấy, mà trong lúc có mấy đưa nhóc đặt vấn đề: “Có mua cây sanh trộm không chú Bảy” liền được Thiên Kim ủng hộ: “Có bao nhiều, bay đem đây tao mua hết”. Nói là làm. Hàng Thanh Phong, cùng với một đám bạn cùng lứa học không nổi nữa. Đang lúc nằm nhà chờ đi xin việc làm liền đi khảo sát địa hình. Biết Cây xăng Quốc Bảo ở Nam Tượng 1, An Nhơn có nhiều cây cảnh đẹp, hiện đang có giá khá đắt. Cả bọn chờ bóng đêm buông xuống liền đèo nhau bằng xe đạp đến tận nơi. Phải đợi đến khi người bảo vệ buồn ngủ, lơi lỏng không đi kiểm soát được, cả bọn liền phân công nhau. Hiên, Tiên, Phong ở ngoài trông xe và cảnh giới. Toán, Lan và Thinh ra phía sau cây xăng lén lút nhổ 02 cây sanh cảnh của ông Nguyễn Phát Trọng. Sau đó cả bọn chở hai cây sanh trên đem đến nhà Nguyễn Thiên Kim bán được ba triệu đồng. Ngựa quen đường cũ, thấy việc làm nhẹ nhàng có được nhiều tiền, khoảng năm ngày sau Toán điều khiển xe mô tô chở Thinh đến nhà anh Nguyễn Danh Công ở thôn Phú Xuân, Phú Phong.Toán cùng Thinh trèo qua cổng vào sân nhà anh Công nhổ cây sanh cảnh đã lên đá san hô đem đến bán cho Kim được bốn triệu rưỡi...

    Trong khi công sức của những người trồng và chăm sóc cây cảnh, phải vào chậu với cảnh trí đẹp đẽ, bắt mắt thì bọn ăn trộm chỉ việc nắm gốc cây nhổ lên. Chẳng cần biết giá trị của cây như thế nào, miễn là có được tiền. Còn đối với Kim, có lẽ mờ mắt trước những món lợi ngày càng lớn, nên chẳng cần biết hậu quả như thế nào, miễn là có được cây, đem bán lấy lời. Chẳng những thế, đôi khi Thiên Kim còn cùng với bọn nhóc trực tiếp đi khảo sát cây cảnh trước khi “ chỉ đạo” bọn chúng lấy trộm. Chỉ trong hơn một tháng, bọn nhóc đã đem đến bán cho Thiên Kim chín cây sanh cảnh, với tổng số tiền thu được mười tám triệu đồng. Vào thời điểm của những tháng đầu năm 2011, trong khi nhiều nơi rầm rộ “người người cây cảnh, nhà nhà cây cảnh” mà chủ lực là hai loại cây: Cây Sanh và Cây Dừng  (hay còn có cái tên mỹ miều hơn gọi là Lộc vừng ). Nhiều người truyền miệng nhau nhiều cây sanh cảnh trị giá bạc tỷ. Cây ít tiền nhất cũng hàng chục triệu. Nhưng của ăn trộm, bọn chúng có tiếc gì đâu! Khiêng cả chậu nặng nề, dễ bị lộ. Nắm gốc cây nhổ và bán thô cho chắc. Có cây trước khi bọn chúng nhổ trộm, đã có giá hàng trăm triệu đồng, nhưng khi về đến với Thiên Kim cao nhất củng chỉ được bốn, năm triệu đồng. Với bọn nhóc như thế là quá nhiều. Toàn bộ số tiền mà chúng bán được cho Thiên Kim đều dùng vào việc ăn nhậu, chơi game. Riêng Thiên Kim khi bán lại cho các nơi khác thì số tiền chắc không hẳn đã bấy nhiêu đó!
     Từ một người dân lương thiện, có chút ít kiến thức về cây cảnh. Đáng lẽ ra phải tự mình trồng, chăm sóc hoặc mua đi bán lại. Đằng nầy, không muốn bỏ công sức, tiền bạc ra mà chỉ muốn mau chóng có tiền, bằng cách làm ăn phi pháp như thế. Điều đáng trách ở đây, không chỉ vì ham lợi bất chính, một mình Nguyễn Thiên Kim phải vào vòng lao lý, mà còn kéo theo cả năm đứa trẻ con. Tất cả đều ở độ tuổi mười sáu, mười bảy. Về phía bọn nhỏ khi thấy có tiền, thỏa thích việc ăn chơi, nên không biết hành động đó là vi phạm pháp luật. Nếu như khi nghe bọn nhỏ hỏi:  “Có mua cây sanh trộm không chú Bảy” bị Thiên Kim la rầy, giải thích hoặc báo lại cha mẹ bọn chúng thì cớ sự đâu đến nỗi như vầy. Giờ đây phải nằm trong nhà tạm giữ của Công an huyện, chờ ngày ra tòa nhận phán quyết. Cho dù bản án có nhẹ gì đi chăng nữa  thì danh dự, giá trị, nhân phẩm cuộc đời của một con người sẽ như thế nào, khi mà những đứa con của Kim đang chuẩn bị lập gia đình. Ở vùng quê nầy ai có thể tin tưởng để làm sui gia với những hạng người như vậy! Con cái nhà ai có đủ can đảm làm vợ của anh chồng có cha là tên buôn đồ trộm cắp như vậy! Đây là nỗi đau và bài học đắc giá cho những kẻ tham lam.
     ( Tên nhân vật đã thay đổi)
                                                Văn Chưa

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

HƯỚNG DẪN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

KHỞI KIỆN TẠI TÒA ÁN
Các tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (vụ án dân sự):
1. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản;
2. Tranh chấp về hợp đồng dân sự;
3. Tranh chấp về thừa kế tài sản;
4. Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của phápluật về đất đai;
5. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
6. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam;
7. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ;
8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật;
9. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.
 Các yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (việc dân sự):
1. Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự;
2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó;
3. Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích;
4. Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết;
5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;
6. Các yêu cầu khác về dân sự mà pháp luật có quy định. 
HỒ SƠ CẦN THIẾT
Hồ sơ khởi kiện tại Tòa án bao gồm:
-   Các tài liệu liên quan đến vụ kiện (hồ sơ nhà, đất, hợp đồng, giấy vay nợ...);
-   Chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có chứng thực) nếu là cá nhân;
-   Hồ sơ pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có chứng thực) nếu là pháp nhân.
- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao). 

*Lưu ý: Các tài liệu nêu trên bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch sang tiếng Việt theo quy định trước khi nộp và nộp kèm theo bản gốc để đối chiếu. 
THỜI HẠN GIẢI QUYẾT
- Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
- Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.(Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự)
ÁN PHÍ
- Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng.
- Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:
 GIÁ TRỊ TÀI SẢN CÓ TRANH CHẤP
MỨC ÁN PHÍ
a. Từ 4.000.000 đồng trở xuống
200.000 đồng
b. Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng
5% giá trị tài sản có tranh chấp
c. Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng
20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
d. Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng
36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
đ. Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng
72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e. Từ trên 4.000.000.000 đồng
112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

HƯỚNG DẪN KHỞI KIỆN VỤ ÁN LY HÔN


Các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (vụ án hôn nhân và gia đình):
1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ;
5. Tranh chấp về cấp dưỡng;
6. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.
Các yêu cầu về hôn nhân và gia đình sau thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
1. Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật;
2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;
3. Yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;
5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;
6. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;
7. Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.

HỒ SƠ CẦN THIẾT
Hồ sơ khởi kiện ly hôn bao gồm:
1.     Đơn xin ly hôn
Nếu hai người thuận tình ly hôn thì đơn ly hôn do cả hai vợ chồng cùng ký, trường hợp vợ hoặc chồng ở nước ngoài thì phải có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại nước đó;
2.       CMND/Hộ chiếu, Hộ khẩu (bản sao có chứng thực);
3.       Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao có chứng thực);
4.       Giấy khai sinh con, nếu có con (bản sao có chứng thực);
5.       Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản);
6.       Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã xóa tên trong hộ khẩu; 
7.       Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn.
Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).
Lưu ý: Các tài liệu nêu trên bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch sang tiếng Việt theo quy định trước khi nộp và nộp kèm theo bản gốc để đối chiếu.

ÁN PHÍ
Án phí phải đóng:
Án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng (nếu không tranh chấp về tài sản) ( xem thêm Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án)

THỜI HẠN GIẢI QUYẾT
Thời gian xét xử:
- Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
- Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

- Nếu thuận tình ly hôn, thời gian sẽ ngắn hơn. (Điều 179 Bộ Luật tố tụng dân sự)

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Trợ giúp Pháp lý... đôi điều suy nghĩ


Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển, nhưng có mặt tiêu cực là làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng lãnh thổ và các nhóm xã hội.
Khoảng cách giàu nghèo về kinh tế tất yếu dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hóa…và đặc biệt là việc tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Nên trong nhiều trường hợp không được tư vấn pháp luật hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại, dễ bị thiệt thòi về quyền lợi hợp pháp của mình. Mặt khác, trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, số lượng văn bản pháp luật ngày càng nhiều và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì việc người dân tiếp cận với pháp luật để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, để xử sự phù hợp với pháp luật trong các quan hệ xã hội hàng ngày không phải dễ dàng. Tổ chức TGPL của nhà nước ra đời đã tạo cơ chế cần thiết để người nghèo, người có công với cách mạng có được điều kiện và hoàn cảnh tương tự như người khác trong việc tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội. Đây cũng là một trong những điều kiện quan trọng góp phần thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

          Với ý nghĩa trên cho thấy công tác TGPL có một vị trí nhất định trong đời sống xã hội. Tuy vậy, nếu những người làm công tác TGPL chưa “quán triệt” được đầy đủ vị trí, ý nghĩa, mục đích và nhất là nội dung thể hiện trong các hoạt động TGPL, chẳng những không “trợ giúp” được gì, ngược lại có thể gây không ít phiền phức từ nhiều phía.
          Theo quy định của pháp luật về TGPL, có thể nói tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội, trừ lĩnh vực kinh doanh thương mại đều được TGPL. Bên cạnh đó, yêu cầu của người được TGPL rất đa dạng, phong phú. Tổ chức và con người thực hiện TGPL không thể nào cùng lúc đáp ứng đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của người được TGPL. Ngược lại không vì khó khăn, phức tạp mà từ chối hay “tư vấn” cho xong việc. Đối với một số trường hợp, nếu chỉ dừng lại ở phần giải đáp, hướng dẫn một cách chung nhất cũng gọi là thực hiện TGPL, thì chưa thể gọi là đã có chất lượng hay đạt được hiệu quả của công tác TGPL. Mặt khác, nếu đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể, từng công việc cụ thể để đáp ứng yêu cầu và làm hài lòng người được TGPL, thì TGPL có thể lại sa vào việc xử lý hay giải quyết yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Trong thực tế, để giải quyết hài hòa mối quan hệ này cũng không đơn giản chút nào. Một người thuộc diện  “người tàn tật cô đơn, không nơi nương tựa” đến với tổ chức TGPL chỉ với hai bàn tay trắng. Không giấy tờ tùy thân, đề nghị được “trợ giúp” làm thế nào để có được các loại giấy tờ tùy thân hợp pháp! Cần biết rằng, trước khi đến với tổ chức thực hiện TGPL, họ đã đi đến các cơ quan có thẩm quyền liên quan về hộ tịch, hộ khẩu cũng đã nhờ một số người quen biết giúp đỡ…nhưng kết quả bằng không! Nếu tổ chức và người thực hiện TGPL chỉ dừng lại ở việc tư vấn, hướng dẫn theo đúng quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục của các loại giấy tờ tùy thân, chẳng khác nào cũng như “câu chuyện làm quà”! Hoặc có trường hợp người được TGPL đề nghị được trợ giúp khiếu nại về đất đai. Chiếu theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về khiếu nại, tố cáo tổ chức và người thực hiện TGPL chỉ việc hướng dẫn hay viết đơn khiếu nại giúp có thể đã hoàn thành việc thực hiện TGPL…Điều này dễ dẫn đến hậu quả là TGPL đâu không thấy, chỉ thấy sau đó toàn là đơn “giúp người dân đi kiện chính quyền”! Do vậy, khi tổ chức và người thực hiện TGPL chưa “quán triệt” được đầy đủ vị trí, ý nghĩa, mục đích và nhất là tìm hiểu kỹ nội dung, yêu cầu của người được TGPL, thêm vào đó nếu thiên về cảm nghĩ cá nhân, dễ dẫn đến những hiện tượng trên.
          Để đảm bảo việc thực hiện TGPL có chất lượng, hiệu quả yêu cầu tổ chức và người thực hiện TGPL phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc hoạt động TGPL. Đó là: “…Trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; Sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; Tuân thủ pháp luật và quy tắt nghề nghiệp trợ giúp pháp lý…” Trên cơ sở đó, tổ chức và người thực hiện TGPL sử dụng các biện pháp và hình thức TGPL cho phù hợp. Tuy nhiên, để có thêm sự “sáng suốt” trong việc sử dụng các biện pháp và hình thức TGPL cho phù hợp với yêu cầu của người được TGPL, điều cần có trước hết đối với tổ chức và người thực hiện TGPL là phải xác định đúng đắn vị trí, ý nghĩa, mục đích của hoạt động TGPL nhà nước và “cái tâm” của người thực hiện TGPL.../.
           VÂN ANH
   ( Huỳnh Văn Chưa, Trung tâm TGPLNN tỉnh Bình Định )

Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Ngày sinh nhật.... buồn!

Sau khi xong bữa tiệc sinh nhật lần thứ mười bảy ở nhà, Sinh rủ Hùng cùng lên xe máy chở nhau ra thị trấn Bình Dương để hát Karaoke. Trên đường từ nhà ở Mỹ Phong đến trụ đèn đỏ, Sinh cho xe máy dừng lại chờ qua đường. Tại trụ đèn đỏ cả hai lại gặp Minh cũng là bạn cùng trang lứa. Chưa kịp hỏi han, thì từ bên kia đường có tiếng gọi:
          - Ê ! Bọn bay đi đâu đó ?
          Đó là tiếng gọi của Thái. Tuy lớn hơn Sinh hai tuổi, nhưng nhà ở gần nhau nên thường chơi thân với nhau. Thái cũng chỉ học hết bậc phổ thông. Hiện nay đang làm công nhân trên tỉnh Gia Lai. Thái mới về nhà cách nay hai ngày. Đang lang thang trên đường thì gặp Sinh, Hùng.
          - Bọn tao đi hát karaoke ?
          - Tao đi với !
          Không hẹn mà gặp, thế là cả bốn người: Sinh, Hùng, Minh, Thái cùng chất nhau trên chiếc xe máy chạy đến quán karaoke. Sinh đang đi học phổ thông, hiện đang kỳ nghỉ hè. Cha mẹ Sinh làm ăn chưa gọi là giàu, nhưng cũng thuộc hàng tương đối khá giả ở vùng nông thôn này. Không biết có phải tự hào vì cùng lứa tuổi, nhưng con mình đang còn ngồi ghế nhà trường, trong khi một số bạn cùng trang lứa đã nghỉ học để lao động hay không, mà cha mẹ Sinh lại chìu con tổ chức buổi sinh nhật của Sinh tại nhà…
          Tại quán karaoke, không chỉ hát “suông” mà bốn người cũng đã làm với đi két bia “Heineken-Quy Nhơn”. Chưa tính trong buổi tiệc sinh nhật tại nhà, mặc dù là sinh nhật “ trẻ con” nhưng mỗi người cũng đã kịp đưa vào trong người “ vài ve”!
          Kim giờ đồng hồ đã bắt đầu chuyển sang con số 10, cả bốn người lúc này mới cùng kéo nhau lên xe để đi về. Sinh nắm tay lái, kế đến là Thái, Hùng. Ngồi sau cùng là Minh. Khi xe chạy khoảng hơn năm trăm mét, bỗng dưng Minh chống tay lên yên xe và nhảy xuống đường để về nhà. Lúc này, trên đường đang có chiếc xe tải nhẹ cùng chạy song song. Không biết do tay lái yếu, bị bất ngờ, hay do hơi men chếch choáng mà tay lái xe máy của Sinh lại va vào hông xe ô tô. Cả ba người trên xe đều ngã xuống lòng đường. Mặc dù Thái ngồi giữa Sinh và Hùng, nhưng khi ngã xuống lòng đường Thái lại là người bị thương nặng nhất. Thái đã chết trên đường đi cấp cứu. Sinh và Hùng mỗi người cũng đều bị thương tật.
          Do chưa đủ tuổi và chưa có Giấy phép lái xe, Sinh là người phải chịu trách nhiệm trong việc điều khiển phương tiện giao thông gây ra tai nạn chết người. Sau khi điều trị vết thương, Sinh đã bị cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện khởi tố vụ án, khởi tố bị can với tội danh: “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

          Rồi đây, không biết Bản án sẽ dành cho Sinh bao nhiêu “thời gian”. Nhưng có điều cái được trong buổi sinh nhật ở đâu chưa thấy, lại gặp cái mất quá lớn lao. Dự định về tương lai của Thái đành phải vĩnh viễn nằm lại. Còn với Sinh, chắc không có Bản án nào lớn bằng bản án dấu ấn của cuộc đời. Vì một phút thiếu suy nghĩ ! Hay vì những phút bốc đồng! Để rồi phải nhận lấy hậu quả. Nếu một khi phải bị  “cách ly xã hội” ắt hẳn con đường học vấn phải bị dở dang. Tương lai sẽ phải như thế nào! Đây không chỉ là bài học cho chính những người trong cuộc, mà ngay cả bậc làm cha, làm mẹ cũng nên suy nghĩ trong việc “thương con” nếu không như ông bà ta thường nói: “Thương-hại”.
          ( Tên nhân vật đã thay đổi )

                                                                                                                                                VÂN ANH

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

TỪ CHUYỆN CHƠI…ĐẾN THẬT

Vào khoảng giữa tháng 7.2008, nhân việc Tô Hải Đường, sinh năm 1991, trú tại: phường Lê Hồng Phong Quy Nhơn là bạn của Phong, nhờ Phong mua dùm (hộ) máy điện thoại di động. Phong nảy sinh ý định lừa lấy tiền của Đường, nên nói dối với Đường là: “Tao có bà chị ở trong Sài Gòn bán điện thoai di dộng giá rẻ, có mua thì đưa tiền tao gửi vô cho bà chị gửi điện thoại ra”. Nhưng thực chất Phong không quen biết ai bán điện thoại ở Sài Gòn cả. Tin lời, nên Đường đưa cho Phong số tiền 1.050.000 đ. Khi nhận được tiền từ Đường, Phong nói với Đường nếu có người quen nào khác muốn mua điện thoại nữa thì gửi tiền để mua luôn một lúc. Sau đó, Đường gặp Bùi Sĩ Cương, sinh năm 1993, trú tại phường Ngô Mây, Tp Quy Nhơn và Nguyễn Anh Tuấn, sinh năm 1991, trú tại phường Lê Lợi, Tp Quy Nhơn là bạn của Đường cũng đang cần mua điện thoại di dộng. Tuấn muốn mua điện thoại loại BlakBerry, Phong đưa ra giá 1.700.000 đồng. Tin lời Phong, Tuấn đưa cho Phong 1.680.000 đồng. Còn Cương cần mua loại Nokia N70, Phong cũng tự nói giá 2.200.000 đồng. Cương nhờ Đường đưa đủ số tiền trên cho Phong. Sau khi nhận được tiền, Phong nói dối là sau một tuần nữa sẽ có điện thoại, rồi dùng số tiền này tiêu dùng cá nhân và chơi điện tử hết. Đường, Tuấn và Cương thấy quá lâu mà Phong không giao điện thoại nên đã nhiều lần tìm Phong để hỏi rõ lý do. Mỗi lần Đường, Tuấn, Cương đi tìm là Phong luôn tìm cách lánh mặt. Dó đó, ngày 10.11.2008 Đường, Tuấn, Cương đã có đơn báo cáo Công an phường Lê Lợi. Tại cơ quan Công an, Phong đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Để có tiền tiêu xài, Phong đã lợi dụng lòng tin của các bạn, lừa lấy tiền.
Một phút sai lầm cả đời hối tiếc
          Sau khi biết sự việc, ngày 11.12.2008, ông Nguyễn Văn Canh là cha của Nguyễn Đức Phong đã bồi thường đủ với tổng số tiền 4.930.000 đồng cho các bị hại. Nhưng đến lúc này thì đã quá muộn. Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Quy Nhơn đã có Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
          Khi ra Tòa, mặc dù Phong đã tỏ ra ăn năn, hối cải, thành thật khai báo và xin lỗi các bạn. Gia đình cũng đã bồi thường đủ số tiền Phong đã lừa lấy, nhưng không thể nào biện minh cho hành vi lừa đảo của mình được. Người bào chữa cho Phong đã đưa ra những luận cứ nhằm giúp cho Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho Phong, nhưng Phong vẫn phải bị cách lý khỏi xã hội một thời gian.
          Bản án tuy không nặng, nhưng cũng không nhẹ. Song đây là bài học đắc giá cho một thanh niên tuổi mới lớn, khi bước chân vào đời đã bị cạm bẫy của cuộc sống do chính bản thân mình gây nên. Nếu như không có những cuộc chơi điện tử ! Nếu như không có những buổi tiêu tiền phung phí ! Và nếu như biết đồng tiền chân chính do mình làm ra, thì giá trị cuộc sống sẽ luôn mỉm cười. Đằng này, muốn mau chóng có tiền, nhưng lại là tiền của người khác. Do đó, việc phải trả giá không chỉ bằng với số tiền mình đã lấy được, mà còn phải nghiền ngẫm những tháng ngày trong trại giam.
          Âu, đây cũng là bài học cho những ai thiếu rèn luyện mình.
Huỳnh Văn Chưa


Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

Bốn anh em họ...cùng vào tù!

Thông thường sau một ngày làm việc mệt nhọc căng thẳng, nhiều người muốn về nhà để nghỉ ngơi, chuẩn bị cho ngày làm việc hôm sau. Bên cạnh đó cũng có một vài đôi thanh niên nam nữ, sau khi rời nhà máy lại muốn tìm cho mình nguồn vui khác. Đó là gặp nhau và tâm sự. Không phải ở quán cà phê, nơi sinh hoạt văn hóa mà lại tìm đến...vườn cây bạch đàn. Chắc có lẽ cũng đã trở thành địa điểm quen thuộc của nhiều cặp đôi nam nữ, nên thỉnh thoảng cũng có một vài em nhỏ, tò mò rình rập. Chuyện sẽ qua đi, nếu chỉ dừng lại ở việc một bên thì mải mê tâm sự, còn bên kia thì chỉ việc...thỏa mãn tính hiếu kỳ là được. Nhưng đằng này...!
Phong năm nay đã ba mươi bảy tuổi. Là người ở xã khác về lấy vợ ở vùng này. Với sức vóc cường tráng, lực lưỡng của độ tuổi thanh niên, Phong cũng như nhiều người khác lo chí thú làm ăn. Với lại, đang mang trong mình một bản án với “ba mươi sáu tháng tù treo” về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông. Chỉ còn một thời gian ngắn nữa là sẽ mãn “hạn tù treo”. Do vậy, không gì khác hơn là phải xa lánh đi những gì liên quan đến...hành vi vi phạm pháp luật. Một hôm, nghe lời đồn đại của một số thanh niên trong thôn, ở vườn bạch đàn bên cạnh thường xuyên có nhiều cặp nam nữ thanh niên, cứ hết buổi làm việc ra về thường rủ nhau ở lại tâm sự. Bỏ ngoài tai những lời “quyến rũ” ấy, Phong không hề quan tâm. Nhưng buổi chiều hôm ấy, một buổi chiều đã một lần nữa ghi dấu ấn trong cuộc đời, khi vì nó mà Phong phải đi vào vòng lao lý. Sau khi Phong cùng ba đứa em họ hàng nhà vợ cạn mấy xị rượu đế, nổi hứng có một ý kiến bất chợt gợi lên: “Hay là mình cùng đến đó xem sao?” Bỡi vì từ nhà đến đám bạch đàn ấy chưa đầy mươi phút đi bộ. Sẵn có chất men trong người, cùng với vai vế là đàn anh mà lại nhát gan hay sao? Nghĩ vậy, nên cả bốn người cùng nhau chất lên chiếc xe máy chạy về phía đám bạch đàn. Quả thật, khi xe máy chưa đến nơi bọn họ đã thấp thoáng thấy đôi nam nữ ngồi bên gốc bạch đàn ra chiều thân mật. Dựng xe bên lề đường, cả bọn đi nhẹ nhàng đến nơi có đôi nam nữ đang tâm sự ấy. Về phần mình, không biết có phải vì “tình yêu” đang muồi mẫn hay sao ấy, mà họ không hề để ý đến xung quanh mình, đang có người dõi theo. Nếu chỉ dừng lại ở việc “mãn nhãn” thì có lẽ sẽ không có việc gì xảy ra, đằng này nhân lúc đôi nam nữ kia không để ý, bọn họ liền chạy đến gần giật lấy túi xách. Đang lúc tâm sự...cao trào, người thanh niên bỗng giật mình vì có người đến lấy túi xách của mình bỏ chạy. Lập tức anh ta chạy theo giành giật lại túi xách với 4 anh em của Phong. Liền lúc đó, Phong cùng hô các em mình ra tay đánh người thanh niên trên, để giành lấy túi xách. Không biết có phải vì đùa nghịch hay vì muốn lấy tài sản trong túi xách ấy, mà Phong và các em của Phong thể hiện quyết tâm giành lấy túi xách cho bằng được. Lúc nầy có một số người nghe ồn ào đi đến nơi xảy ra cớ sự và cũng là lúc anh em của Phong “bỏ của chạy lấy người”...
Ảnh minh họa
Tại phiên tòa, mặc dù tên Phong và các em của mình tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi tinh nghịch của mình, được người bị hại là bạn gái của người thanh niên kia xin giảm nhẹ trách nhẹ hình sự, nhưng với tính chất răn đe, phòng ngừa để làm gương cho nhiều trường hợp khác, Hội đồng xét xử đã quyết định xử phạt Phong hai năm tù giam, cộng với thời gian của vụ án trước Phong đang “thụ án treo”, tổng hợp hai bản án tên Phong phải thụ án 5 năm tù giam. Còn các đứa em họ của Phong, đứa lớn nhất cũng chỉ mới trên tuổi mười bảy chừng vài tháng, có đưa mới hơn mười sáu tuổi, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt từ 12 đến 18 tháng tù giam.
Vụ án là bài học cảnh tỉnh không chỉ cho những tên nghịch ngợm, mà còn dành cho những đôi nam nữ thanh niên quan hệ tình cảm không đúng nơi, đúng chỗ gấy hiệu ứng không tốt cho xã hội và để lại dấu ấn không đẹp trong tình yêu mặc dù tình yêu đó có thể là trong sáng!
( Bài viết dựa theo một vụ án đã được xét xử)

                                                          Huỳnh Văn Chưa

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

CÓ MỘT NGÀY NHƯ THẾ !

Thế là mấy ngày tết lại qua đi một cách nhanh chóng. Hôm nay đã là mồng bảy tháng giêng, ngày hạ cây nêu tết. Cũng là lúc những người đi làm ăn xa phải chuẩn bị đồ đạc, hành trang để bước vào những tháng ngày lao động. Đang ngồi suy nghĩ vẩn vơ, bỗng có tiếng gọi từ bên ngoài đường:

          - Ê ! Bình ơi, mày có nhà không ?
          - Có. Thắng đó hả. Có việc gì mà gọi gấp dữ vậy?
          Dựng chiếc xe máy trước cửa, Thắng đi vào nhà. Ngồi một lúc Thắng nói:
          - Mấy cái thằng ở thôn DL, xã ÂTĐ hôm trước bọn mình lên chơi nhà con Thanh, bị bọn nó chận đánh và đập xe của bọn mình đó, mày có nhớ không?
          Khi nghe câu hỏi ấy, những thước phim hồi ức bên trong con người Bình có dịp trỗi dậy. Với bản tính thanh niên hiếu thắng, sở dĩ phải bị thua đau là vì ở địa phương của người ta, hơn nữa trong lúc mình yếu thế, ít người. Nên cả bọn đành bỏ xác lại chiếc xe máy.Mãi hai ngày sau mới lên lấy đem về sửa chữa được.  
          - Bây giờ mày tính sao?
          - Còn tính sao gì nữa! Đêm nay bọn mình rủ thêm năm bảy đứa trong nhóm bạn mình nữa, ra chận ngay giữa đường đèo. Gặp bọn thanh niên ở xã ÂTĐ là đánh ngay thôi.
          Như bếp than hồng được đổ thêm dầu. Thắng và Bình tức tốc cùng chở nhau đi rủ đám bạn. Khi các tên: Nam, Tình, Vũ, Hồng, Đăng nghe Thắng nói như vậy, cả bọn liền hưởng ứng tích cực. Để tăng thêm phần phấn khích và lên “dây cót” can đảm. Cả bọn lại góp tiền mua bia uống và chờ bóng đêm buông xuống là ra tay hành động. Thắng phân công làm hai tốp. Tốp đứng ngay giữa đèo để chận đường và tốp còn lại đứng sau hậu thuẫn. Mỗi người tự trang bị cho mình một khúc cây. Ngay trong đếm ấy, khi cả bọn đã vào “vị trí”.  Chẳng cần chờ đợi lâu,  chừng hơn mười phút sau đã có một cặp đôi nam nữ chở nhau trên xe máy đi vào “tầm ngắm” của bọn chúng. Thắng đứng chận ngay giữa đường đèo, và hỏi: “ Ở đâu đó?”. Khi biết được hai người ở xã ÂTĐ bọn chúng liền ra tay đập phá xe máy. Người thanh niên bỏ chạy thục mạng trong đêm tối, còn người con gái bị bọn chúng bắt đưa vào phía sau rặng cây. Cứ thế, trong đếm ấy chúng đã đập phá ba chiếc xe máy và cũng đã “ thương tình” cho đi qua khỏi hai chiếc xe máy khác, vì là người quen. Cũng may, tâm điểm của bọn chúng là chỉ nhằm vào việc đập phá xe máy cho hả dạ, chứ chưa nghĩ đến việc gì khác đối với người con gái. Đến đây, sự việc chừng như đã hả giận. Trong lúc hưng phấn, Thắng nói với Vũ đang đứng bên cạnh: “ Mày có tin rằng trong cốp xe kia có tiền hay không ?” Vũ chưa kịp có phản ứng gì, Thắng liền lấy khúc cây cạy yên xe lên, lục lọi tìm được chiếc ví, trong đó có chín trăm ngàn đồng và một số giấy tờ tùy thân. Lúc nầy, chỉ có Thắng với Vũ, còn Bình tuy cùng nhóm với Thắng, nhưng đang đứng phía bên kia đường. Cả bọn còn lại ở đầu đường, xong việc đã kéo nhau bỏ đi về. Lấy được tiền Thắng đưa cho Vũ năm mươi ngàn đồng. Số còn lại Thắng cất giữ. Sáng hôm sau cả bọn gặp lại nhau. Thắng đưa cho Bình năm mươi ngàn đồng. Bình cầm lấy và đi mua một ổ bánh mì hết tám ngàn đồng. Còn lại Bình đưa cho Thắng. Thắng bảo: “ Mày cầm tiến nầy bỏ trốn đi, không sẽ bị công an bắt ” Bình không đồng ý và nói: “ Không, hồi hôm ba tao bảo sáng nay phải đi đầu thú”. Đến đây có lẽ cả bọn đã bắt đầu thấy sợ. Như ông bà ta xưa thường nói: “ Chưa đánh được người mặt đỏ như vang, đánh được người rồi, mặt vàng như nghệ” Bình ra đầu thú. Còn Thắng và một số tên nữa đã bỏ trốn. Sau đó, cả bọn bị các cơ quan tiến hành tố tụng ở huyện khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử với tội danh: “Hủy hoại tài sản công dân”. Riêng Thắng, Vũ và Bình còn bị thêm tội danh: “Cướp tài sản”.  
Sẽ chẳng còn gì để nói, nếu như thiếu vai trò của người bào chữa. Mục đích của người bào chữa trong trường hợp nầy, không nhằm để chạy tội hay làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà góp phần giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiến tòa căn cứ vào hồ sơ và lời khai tại tòa, người bào chữa cho Bình đã nêu các tình tiết và diễn biến của sự kiện. Qua đó, cho biết việc Thắng đưa tiền cho Bình là vào sáng hôm sau. Không nói là tiền gì, ở đâu Thắng có. Mục đích đưa tiền cho Bình là để bỏ trốn. Đồng thời khi Thắng cạy cốp xe, Bình đứng ở bên kia đường, trời tối không nhìn thấy hành động gì của Thắng. Đồng bọn cũng không  ai nói lại sự việc cạy cốp xe của Thắng. Do đó, tại phiên tòa người bào chữa đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Bình không phạm tội cướp tài sản, nhưng không được chấp nhận. Tòa sơ thẩm đã tuyên phạt Bình tội hủy hoại tài sản 12 tháng tù, tội Cướp tài sản 28 tháng tù. Tổng cộng hình phạt Bình phải bị 40 tháng tù giam. Người bào chữa đã giúp gia đình Bình kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã tuyên Bình không phạm tội cướp tài sản. Chỉ tuyên phạt Bình tội hủy hoại tài sản với 12 tháng tù giam. Cũng vừa lúc thời hạn tạm giam đã vượt trên 12 tháng.
Kết thúc phiên tòa phúc thẩm, cha con của Bình đã dặn lòng: “ Từ nay phải tránh xa thói côn đồ, hung hãn”. Âu cũng là bài học đắc giá cho tuổi  bồng bột.
                                                                   Vân Anh
                                     

                                                Huỳnh Văn Chưa

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Thu hồi đất: Phải thông báo chậm nhất trước 90 ngày

Quy định cụ thể về thời gian thông báo thu hồi đất, thẩm quyền cho phép thu hồi đất, mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp…là những điểm mới nổi bật trong Luật Đất đai sửa đổi vừa được thông qua.
Thẩm quyền thu hồi đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Nhằm khắc phục loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất, Luật mới đã quy định cụ thể những trường hợp Nhà nước thu hồi đất. Và tránh tùy tiện trong thu hồi đất, Luật cũng quy định rõ thẩm quyền cho phép thu hồi đất.
Cụ thể, Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây: thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất; thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm: Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn phát triển chính thức (ODA); dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia.
Thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ còn có dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm: Giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải.
Đối với Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, Luật giao quyền chấp thuận các dự án phải thu hồi đất gồm: Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương. Ngoài ra, còn có các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm: Giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải; dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng…..
Cụ thể thời gian thông báo trước khi thu hồi đất
Vấn đề về thông báo thu hồi đất, so với quy định hiện hành, Luật Đất đai sửa đổi đã quy định cụ thể hơn. Theo đó, trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất bị thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo dạc, kiểm đếm.
Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định nêu trên thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất. Người có đất bị thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất bị thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất.

Theo Luật Đất đai sửa đổi, trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất bị thu hồi biết
Thời hạn giao đất, cho thuê đất nông nghiệp không quá 50 năm
Một trong những quy định mới của Luật Đất đai sửa đổi là mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp. Theo quy định này, người sử dụng đất được sử dụng đất lâu dài trong 11 trường hợp, đó là: Đất ở do hộ gia đình, cá nhân sử dụng; đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng (cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc; cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ đất được giao, được sử dụng đất kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác); đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất tín ngưỡng; đất giao thông, thủy lợi, đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, đất xây dựng các công trình công cộng khác không có mục đích kinh doanh…
Đối với đất sử dụng có thời hạn, Luật cũng liệt kê 8 trường hợp. Cụ thể: thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định là 50 năm. Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định nêu trên.
Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm. Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất. 
Đáng chú ý, đối với dự án kinh doanh nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài. Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản này.